Các nguyên nhân sinh học của bệnh béo phì

Các nguyên nhân sinh học của bệnh béo phì

Chế độ ăn dư thừa chất béo hoặc nhiều ca-lori và ít vận động là một nguyên nhân sinh học dẫn đến chứng béo phì. Sự trao đổi chất của một phụ nữ chậm lại khoảng 25% sau khi mãn kinh, có nghĩa là nếu bà ta không giảm lượng ca-lo-ri đưa vào cơ thể 25%, hoặc gia tăng hoạt động thể lực lên 25% để cân bằng, điều tất nhiên là bà ta sẽ tăng cân.

Ngoài ra còn có các vấn đề liên quan đến hormon có thể gây ra béo phì, chẳng hạn như tuyến giáp hoạt động kém – gọi là giảm năng tuyến giáp – điều rất thường gặp ở phụ nữ trên 50 tuổi. Bởi vì việc thay đổi chế độ ăn uống và nếp sinh hoạt hàng ngày là rất khó khăn, người ta đã quan tâm đến việc đi tìm một nguyên nhân di truyền gây ra chứng béo phì.

Nếu chúng ta thừa hưởng chứng béo phì, như thế có nghĩa là chứng béo phì nằm ngoài khả năng kiểm soát của chúng ta, giả thuyết này hẳn là tạo được sự thoải mái cho rất nhiều người. Hiện nay, chúng ta đang ở giữa chừng dự án Human Genome, một dự án nhắm đến việc vẽ ra bản đồ gen toàn diện của cơ thể con người. Nhiều nỗ lực đang được thực hiện nhằm tìm kiếm một “gen béo phì”. Nhưng không có mấy nhà khoa học tin rằng béo phì là hoàn toàn do một gen di truyền gây ra.

Nói cách khác, có quá nhiều các yếu tố môi trường và xã hội có thể tác động làm thay đổi sự béo phì. Đi tìm một gen di truyền gây ra béo phì, có khác gì đi tìm một gen gây ra sự giận dữ hay gen gây ra tội ác? Một giả thuyết quan trọng khác về nguyên nhân gây béo phì có liên quan đến sự đề kháng với insul in. Người ta tin rằng khi cơ thể sản sinh quá nhiều insulin, chúng ta sẽ có khuynh hướng ăn vào nhiều hơn để cố duy trì một sự cân bằng. Đây là lý do giải thích vì sao việc tăng cân rất thường là dấu hiệu đầu tiên của bệnh đái tháo đường loại 2.

Nhưng rồi chúng ta lại phải đặt ra câu hỏi, điều gì đã làm phát sinh sự đề kháng với insulin? Đến đây, nhiều nhà nghiên cứu lại tin rằng sự béo phì chính là nguyên nhân. Như vậy là chúng ta rơi vào cái vòng luẩn quẩn con gà và cái trứng.1 Nhiều giả thuyết khác xoay quanh chức năng của các tế bào chất béo.

Phải chăng có một số người mà về mặt di truyền sẽ có nhiều tế bào chất béo hơn những người khác?

Tuy vậy, ở đây vẫn chưa có được câu trả lời.

Thế liệu có mối quan hệ nào giữa bộ não và chứng béo phì hay không? Một số người cho rằng chứng béo phì là hoàn toàn do nơi bộ não và có mối quan hệ với vùng dưới đồi1 – một vùng của bộ não có chức năng kiểm soát các tín hiệu gửi đến cho các phần khác của cơ thể.

Vì một nguyên nhân nào đó, vùng này đã có sự nhầm lẫn trong việc gửi đi tín hiệu để báo rằng “bụng đã no”. Người ta tin rằng vùng dưới đồi có thể là nơi kiểm soát các tín hiệu gửi đi khi cơ thể đã no đủ. Với một số các nhà nghiên cứu khác, vấn đề có thể gây ra do một sự trục trặc của cơ thể làm cho không nhận ra được các tín hiệu về trạng thái đói hoặc đã no.

Tuy nhiên, những nghiên cứu trong lãnh vực này còn chưa đi đến kết luận nào cả. Một cuộc nghiên cứu được tường thuật trên tạp chí y khoa Nature Medicine, số phát hành trong năm 1997, cho thấy rằng những người có nồng độ hormon leptin trong cơ thể thấp có thể có khuynh hướng tăng cân.

Trong cuộc nghiên cứu này, những người tăng cân trung bình 20 kilogram trong ba năm đã khởi đầu với một nồng độ leptin thấp hơn so những người không 1 Hypothalamus tăng cân trong cùng giai đoạn này. Do đó, cuộc nghiên cứu này có thể tạo cơ sở cho việc điều trị chứng béo phì bằng leptin. Các chuyên gia ước tính rằng khoảng 10% những người bị béo phì có thể là do sự đề kháng với leptin. Leptin được tạo thành bởi các tế bào chất béo, và rõ ràng là đã gửi những tín hiệu đến bộ não về lượng chất béo mà cơ thể đang có.

Giống như các loại hormon khác, người ta nghĩ rằng leptin có chức năng kích thích hoạt động theo kiểu tương tự như một máy điều hòa nhiệt độ. Khi thử nghiệm với loài chuột, một lượng leptin vừa phải có thể kích thích chuột trở nên năng động hơn và ăn ít hơn, trong khi quá ít leptin làm cho chuột ăn nhiều hơn và ít năng động hơn.

Điều đáng quan tâm là, giống thổ dân Pima ở Hoa Kỳ, vốn có khuynh hướng béo phì, khi phân tích máu đã cho thấy họ có lượng leptin rất ít, chỉ bằng một phần ba mức trung bình của mọi người. Hiện nay, những cuộc nghiên cứu sử dụng leptin tiêm vào người để điều trị chứng béo phì đang được tiến hành, nhưng cho đến nay vẫn chưa tỏ ra là có hiệu quả.

Thuốc điều trị bệnh béo phì Điều trị bệnh béo phì bằng thuốc có một lịch sử cực kỳ u ám. Phụ nữ liên tục bị hệ thống y tế đối xử phân biệt. Trong suốt thời kỳ những năm 1950, 1960 hay ngay cả 1970, phụ nữ được kê đơn cho thuốc thyroxine, một hormone tuyến giáp để làm tăng tốc độ quá trình chuyển hóa.

Trừ phi người nào có tuyến giáp hoạt động chậm hay không có tuyến giáp (có thể bị loại bỏ bằng phẫu thuật), nếu không thì đây là một phương thuốc cực kỳ nguy hiểm có thể gây ra cơn suy tim. Hãy yêu cầu kiểm tra chức năng tuyến giáp trước khi chấp nhận phương thuốc này. Amphetamine hay “thuốc kích thích” thường được rao bán rộng rãi cho phụ nữ cũng như được các bác sĩ sử dụng, nhưng chúng cũng rất nguy hiểm và khiến sức khỏe bạn gặp phải rủi ro. Gần đây Chính phủ Hoa Kỳ đã chấp thuận một loại thuốc viên chống béo phì.

Loại thuốc này gây tác động bằng cách ngăn cản sự hấp thụ khoảng một phần ba số lượng chất béo được ăn vào. Loại thuốc mới này là orlistat, tên thương hiệu hiện nay là Xenical.

Một trong những tác dụng phụ của nó là gây tiêu chảy một cách khó chịu mỗi khi người dùng thuốc ăn các thức ăn béo. Để tránh phản ứng phụ, chỉ đơn giản là tránh không ăn chất béo. (Nhưng nếu không ăn chất béo thì có lẽ không cần dùng thuốc này. Lại là chuyện con gà và cái trứng!) Tuy nhiên, thuốc này còn làm giảm độ hấp thụ của cả sinh tố D và nhiều chất dinh dưỡng quan trọng khác nữa. Orlistat là loại thuốc đầu tiên chống béo phì thông qua đường tiêu hóa, thay vì là tác động lên não.

Được uống vào cùng với mỗi bữa ăn, chất này kết hợp với một số enzym của tụy để ngăn cản sự tiêu hóa khoảng 30% lượng chất béo ăn vào. Tuy nhiên, về lâu dài nó sẽ gây ảnh hưởng đến tụy như thế nào vẫn chưa thể biết được.

Khi được kết hợp với một chế độ ăn kiêng hợp lý, những người dùng thuốc orlistat giảm cân nhiều hơn so với những người không dùng thuốc. Thuốc không cần cho những người chỉ muốn giảm đi chừng một vài kilogram, nó được nhắm đến việc sử dụng cho những người bị bệnh béo phì. Ngoài ra, orlistat cũng được biết là làm giảm được cholesterol, huyết áp và độ đường trong máu.

Một trong những liệu pháp chống béo phì gây nhiều tranh cãi nhất là việc sử dụng fenflur amine và phentermine. Cả hai loại thuốc này đều đã được cho phép sử dụng riêng rẽ từ cách đây hơn 20 năm, nhưng kể từ năm 1992, các bác sĩ đã sử dụng chúng kết hợp với nhau kéo dài để điều trị chứng béo phì.

Điều này được xem như một cách điều trị không theo công năng chính thức của thuốc. Trong năm 1996, các bác sĩ ở Hoa Kỳ đã đưa ra mỗi tháng tổng cộng 18 triệu toa thuốc loại này! Rất nhiều toa thuốc trong số này được viết ra cho những người không mắc bệnh béo phì. Tháng 7 năm 1997, Cơ quan Quản lý Thực Dược phẩm Hoa Kỳ1 cùng với các nhà nghiên cứu ở Mayo Clinic và tổ chức Mayo Foundation đã đưa ra một thông cáo chung cảnh báo các bác sĩ rằng sự kết hợp fenfluramine và phentermine có thể gây ra bệnh tim.

Ngày 15 tháng 9 năm 1997, fenfluramine bị cấm trên thị trường. Nhiều thông tin không tốt khác đã được đưa ra về việc fenfluramine và phentermine gây tác hại nghiêm trọng đến nồng độ serotonin. Điều này càng khẳng định thêm rằng, xét về mặt an toàn của những 1  The U. S. Food and Drug Administration loại thuốc chống béo phì hiện nay, việc điều chỉnh chế độ ăn uống và nếp sinh hoạt hàng ngày vẫn được xem là con đường tốt nhất dẫn đến sự khỏe mạnh.

Một loại thuốc thay thế fenfluramine và phenterm ine là sibutramine (tên thương phẩm là Meridia) đã được FDA chấp thuận vào 11/1997. Sibut ramine đầu tiên được phát triển vào cuối những năm 1980 như là một loại thuốc chống trầm cảm, nhưng giống như fenfluramine và phe nt ermine, nó tác động lên não khiến bạn luôn có cảm giác no.

Sibutramine khác với fenfluramine và phentermine ở chỗ là nó không tác động đến tim.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *