Lễ Phật Đản

Lễ Phật Đản

Thờ : Phật Thích-ca Mâu-ni

Địa điểm : Đại lễ tại các chùa trên toàn quốc và rước xe hoa trên các đường phố lớn

Thời gian : Ngày 15 tháng 4 Đặc điểm :

– Nghi thức nghiêm trang tại các chùa

– Xe hoa diễu hành qua các đường phố

– Hoạt động văn nghệ của giới thanh thiếu niên Phật tử

Những yếu tố trên, cộng thêm với bề dày thời gian qua bao thăng trầm cùng lịch sử dân tộc, đã làm cho Phật giáo càng trở nên gần gũi, thân thiết với đại đa số người Việt trên khắp nẻo đường đất nước.

Hầu như đi đến bất cứ nơi đâu trên mảnh đất hình chữ S này cũng đều thấy bóng dáng những ngôi chùa trầm mặc khói hương, và từ đó vang lên những lời kinh ngân nga trong tiếng chuông, tiếng mõ, hòa quyện với không gian làng quê cũng như phố thị, để mang lại sự yên bình thanh thản trong tâm thức của mọi người dân Việt. Vì thế, điều tất nhiên là số lượng tín đồ Phật giáo ở Việt Nam khá lớn, chiếm đến khoảng bảy, tám chục phần trăm dân số.

Vào các ngày rằm, mồng một (âm lịch), cũng như vào những ngày rằm lớn trong năm như rằm tháng giêng, rằm tháng 7, rằm tháng 10… ngôi chùa nào cũng đông đảo khách chiêm bái, cầu mong những điều tốt lành cho cuộc sống bản thân cũng như cho thân bằng, quyến thuộc.

Những người thường đến lễ bái các chùa chiền Phật giáo thuộc nhiều thành phần khác nhau trong xã hội, từ giới sản xuất, dịch vụ, kinh doanh cho đến những người dân lao động, thợ thuyền, nông dân; từ tầng lớp bình dân ít học cho đến giới trí thức như văn nghệ sĩ, giáo viên, giảng viên; từ những em bé còn được mẹ dắt tay tung tăng trong sân chùa, cho đến các cụ ông cụ bà râu tóc bạc phơ cũng chống gậy lên chùa lễ Phật… Tất cả mọi người đều cảm nhận được trong không khí trang nghiêm của ngôi chính điện thờ Phật một sự thiêng liêng cao cả mà lại vô cùng thân quen, gần gũi, đủ để mang lại sự bình yên thanh thản cho tâm hồn sau những ngày vất vả bon chen trong cuộc sống.

Tuy vậy, số lượng khách hành hương tập trung về các ngôi chùa Phật giáo đông nhất trong năm chính là vào dịp lễ Phật đản, rằm tháng tư âm lịch, tức là kỷ niệm ngày thái tử Tất-đạt-đa (Siddhārtha) chào đời để sau này lớn lên tu tập và tìm ra con đường cứu khổ cho nhân loại, và được mọi người tôn kính gọi là Đức Phật Thích-ca (Śākya).

Lễ Phật Đản có thể xem là một trong các lễ hội lớn nhất của tôn giáo này, cho nên bất cứ ngôi chùa Phật giáo nào cũng đều tổ chức nghi lễ kỷ niệm vô cùng long trọng, tạo thành bầu không khí chung khá đầm ấm không chỉ trong các tự viện, chùa tháp mà còn lan tỏa khắp các vùng dân cư từ thành thị đến thôn quê.

Cùng với cả nước, Thành hội Phật giáo thành phố H ồ Chí Minh năm nào cũng tổ chức Đại lễ Phật đản vô cùng long trọng tại chùa Vĩnh Nghiêm, tọa lạc tại số 339 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Ngay từ những ngày đầu tháng 4, người ta đã thấy ban tổ chức lễ tất bật với công việc dựng lễ đài ngay trên khoảng sân trước chánh điện của chùa.

Đó là một bệ gỗ cao chừng một thước rưỡi, diện tích khoảng ba, bốn chục mét vuông. Chính giữa bệ gỗ, người ta đặt một hương án đầy đủ những vật dụng thờ cúng, như: lư nhang, chân đèn, đỉnh trầm, bình hoa, bát nhang, dĩa trái cây… Trên hương án là tượng Phật đản sinh, đứng trên một đóa sen, tay phải chỉ lên trời, tay trái chỉ xuống đất, theo đúng như trong lịch sử Đức Phật Thích-ca.

Sau lưng bệ gỗ là một tấm phông cao to, dựng thẳng đứng, với chiều ngang bằng khít với bệ g ỗ. Mặt phông vẽ c ảnh vườn Lam-tì-ni (Lumbini), nơi Phật đản sinh, với nhiều cây cối hữu tình với đầy những cánh hoa khoe sắc. Hoáig hậu Ma-da (Māya) tay vịn một nhánh cây, mắt trìu mến nhìn đứa con thân yêu của mình mới chào đời.

Chung quanh là những cung nữ đang trố mắt nhìn thái tử sơ sinh với đầy vẻ ngạc nhiên, thích thú! Phía trước và hai bên trái phải của lễ đài là những dãy ghế dành cho khách mời và chư vị tăng ni tham dự lễ. Xung quanh khu vực lễ đài là các lồng đèn hình hoa sen hồng treo xen lẫn với những dây cờ Phật giáo năm màu xanh, đỏ, trắng, vàng, cam treo ngang dọc, bay lất phất trong gió, cùng với cờ tổ quốc trong sân chùa, hứa hẹn không khí ngày đại lễ đầy vẻ rực rỡ, trang nghiêm.

Từ sáng sớm ngày rằm tháng tư âm lịch, từng đoái xe chở chư tôn đức tăng ni và Phật tử từ 24 quận huyện của thành phố Hồ Chí Minh lũ lượt đổ về chùa Vĩnh Nghiêm để tham dự Đại Lễ Phật Đản. Gần đến giờ khai lễ, toái khuôn viên lễ đài chùa đã rực rỡ màu áo vàng cũng như màu áo lam của hơn 5000 chư tôn tăng ni và chư vị Phật tử. Nhiều lẵng hoa tươi thắm của các cơ quan, đơn vị, tập thể, cá nhân gửi đến chúc mừng bày khắp lễ đài. Những bài hát ca ngợi Phật pháp vang lên khắp không gian lễ hội. Tất cả mọi âm thanh đều lắng xuống khi ba hồi chuông trống Bát nhã chậm rãi vang lên.

Tất cả thành viên tham dự lễ đều yên lặng, thành kính trong nghi thức cử hành đại lễ. Mở đầu là đại diện ban tổ chức giới thiệu toái bộ chương trình buổi lễ, tuyên bố lý do cũng như thành phần tham dự chương trình đại lễ.

Tiếp theo là bài diễn văn mang nội dung nhắc lại sự tích đản sinh của đức Phật Thích Ca cùng ý nghĩa trọng đại của ngày này đối với chư tôn tăng ni và chư vị Phật tử. Cuối cùng là đại diện Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh phát biểu chúc mừng lễ Phật đản. Sau đó là nghi thức cúng dường Phật đản. Mở đầu là nghi thức niêm hương tưởng nhớ đến công đức to lớn của đức Phật Thích Ca. Những nén hương được thắp và dâng lên lễ đài, khói bay nghi ngút, tạo cho không khí lễ hội càng thêm tôn nghiêm.

Tiếp theo là nghi thức dâng hoa của hàng Phật tử. Những thiếu nữ Phật tử trong trang phục Ấn Độ cổ xưa màu sắc rực rỡ bưng các rổ hoa, từ hai bên trái phải chạy vào lễ đài, tung những cánh hoa ngát hương thơm quanh tượng Phật đản sinh, rồi chạy vòng trở ra giữa âm thanh của những bài ca tán tụng sự ra đời của Đức Phật, làm cho bầu không khí đang trầm lắng bỗng trở nên sinh động hẳn lên.
Nghi thức dâng hoa cúng dường vừa chấm dứt thì nghi thức “Nhập Từ bi quán” được nối tiếp. Tất cả chư tôn tăng ni và Phật tử cùng bước vào những giây phút trầm tư, với ý nghĩa để nuôi dưỡng lòng từ bi hướng đến khắp cả chúng sanh và pháp giới.

Cả lễ đài lắng xuống, không một tiếng vang. Nối tiếp nghi thức “Nhập Từ bi quán” là nghi thức khóa lễ Nam tông và Bắc tông, tức là nghi thức tụng kinh bằng tiếng Phạn của Phật giáo Nam tông và nghi thức tụng kinh bằng tiếng Hán của Phật giáo Bắc tông. Toái không gian lễ hội hầu như chỉ còn nghe vang lên những lời kinh nhặt khoan của chư tôn tăng ni và chư vị Phật tử, hòa theo trong nhịp mõ khoan thai và xen lẫn những tiếng chuông ngân nga như nhắc nhở m ọi người về những giáo lý từ bi hỉ xã mà đức Phật đã truyền dạy.

Nghi thức “hồi hướng” với ý nghĩa cầu nguyện mọi sự an lành tốt đẹp cho tất cả chúng sanh nhờ vào công đức cúng dường Phật đản và sự từ bi hộ trì của chư Phật, được tiếp nối bằng việc đề ra những việc làm hướng thiện nhân ngày lễ Phật đản của những người tu Phật.

Nhiều công việc vừa mang tính cách từ bi vừa mang tính cách xã hội được đề ra khá cụ thể để làm mục tiêu cho các hoạt động của Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian sắp tới. Cuối cùng, chương trình Đại lễ Phật đản được chấm dứt bằng nghi thức thả bong bóng cầu nguyện thế giới hòa bình của tất cả quý vị quan khách, chư tôn tăng ni và chư vị Phật tử.

Hơn 5000 quả bong bóng đủ màu sắc rực rỡ bay tung lên bầu trời xanh giữa những tràng pháo tay và những lời ca tiếng nhạc tán tụng sự ra đời của đức Phật Thích Ca, rền vang cả một góc trời. Sau đó là phần dâng hương lễ bái của toái thể Phật tử xa gần, diễn ra suốt ngày đêm rằm tháng tư âm lịch. Từ nội thất, lễ đài và khoảng sân rộng trước chùa Vĩnh Nghiêm, lúc nào cũng đông nghịt khách chiêm bái.

Tiếng tụng kinh, tiếng khấn nguyện, tiếng chuông, tiếng mõ… vang lên suốt ngày đêm. Khói hương nghi ngút khắp cả nội, ngoại thất ngôi chùa, từ xa trông giống như sương mù của những buổi sáng gần Tết. Đêm đến thì toái không gian của ngôi chùa sáng lung linh với những chiếc lồng đèn hình hoa sen rực màu hồng.

Lớp lớp khách hành hương ra vào chiêm bái, tay cầm những bó hương đỏ rực. Khói hương hòa quyện dưới ánh trăng rằm làm cho bầu không khí càng thêm huyền ảo. Những năm trước đây, vào dịp lễ Phật đản còn có chương trình diễu hành xe hoa diễn ra trong đêm rằm tháng tư âm lịch. Hàng trăm chiếc xe trang trí hình tượng Phật đản sinh với nhiều kiểu thức và màu sắc khác nhau, xe nào cũng có ánh đèn rực rỡ chiếu sáng, lần lượt đi qua chầm chậm trước cổng chùa Vĩnh Nghiêm.

Hàng vạn Phật tử và người dân thành phố đổ về đứng chật ních hai bên con đường xe đi qua và trước chùa Vĩnh Nghiêm để xem xe hoa đăng. Những tiếng nhạc ca ngợi Phật pháp từ các xe hoa đăng vang vang, xen lẫn là tiếng trầm trồ, tiếng vỗ tay của khách dự khán, tạo nên một bầu không khí náo nhiệt chưa từng có vào những dịp lễ hội khác trong năm.

Tùy theo khả năng tài chánh và số lượng Phật tử nhiều hay ít, các ngôi chùa khác ở thành phố Hồ Chí Minh cũng đều tổ chức lễ Phật đản trong bầu không khí long trọng và trang nghiêm, tạo nên một sinh hoạt lễ hội tôn giáo khá đặc thù, không ồn ào nhưng vô cùng sâu lắng.

Và cũng không chỉ riêng thành phố Hồ Chí Minh, mà hầu hết các địa phương trong cả nước đều có tổ chức nghi lễ mừng Phật đản. Phật đản. Một trong những điểm thường tổ chức Đại lễ Phật đản với quy mô nổi bật phải nhắc đến là tỉnh Thừa Thiên-Huế, nơi mà rất nhiều người Việt Nam vẫn quen gọi một cách thân thương là “xứ Phật”. Đặc biệt là nơi đây vẫn giữ được truyền thống tổ chức xe hoa diễu hành mừng Phật đản trên các đường phố lớn. Năm 2004, Phật tử t ỉnh Thừa Thiên-Huế đã thực hiện 30 chiếc xe hoa cúng dường Phật đản, mà mỗi chiếc xe đều là một kỳ công nghệ thuật.

Vào đêm Đại lễ Phật đản, đoái xe đi qua khắp các con đường lớn trong thành phố Huế, đã tạo điều kiện cho toái dân thành phố được đắm mình trong không khí lễ hội vừa tôn nghiêm vừa phấn khởi, vừa trang trọng vừa thân quen, vừa náo nức lại vừa sâu lắng. Việc làm những xe hoa cúng dường Phật đản do Ban trị sự Phật giáo Tỉnh Thừa Thiên-Huế đứng ra tổ chức thực hiện với sự đóng góp công sức của tăng ni Phật tử trong toái tỉnh.

Do đó, ngoài tính chất quy mô cân xứng với một tỉnh có số Phật tử đông đảo, những chiếc xe hoa còn được ban tổ chức lưu ý sắp xếp để thể hiện được các chủ đề khác nhau, bổ sung cho nhau nhằm nói lên được đầy đủ ý nghĩa của ngày lễ Phật đản.

Vì thế, điểm qua chủ đề của 30 chiếc xe hoa trong ngày Phật đản, chúng ta có thể thấy được hầu như trọn vẹn ý nghĩa tinh thần cũng như lịch sử của ngày Đại lễ này.

Xe hoa thứ nhất mang chủ đề “Trầm hương cúng Phật”, với hình tượng một đỉnh trầm hương lớn đặt trên một bục hình chữ nhật, ở bốn góc xe là bốn lá đại kỳ Phật giáo năm màu bay phất phới. Nhìn từ phía trước thấy nổi bật lên dòng chữ lớn: “Kính mừng Phật đản”.

Xe hoa này mang ý nghĩa cúng dường chư Phật nhân ngày đại lễ, mà cũng là sự cúng dường mà người Phật tử luôn tiếp nối duy trì từ ngày đức Phật còn tại thế cho đến nay, bởi thông qua sự cúng dường ấy mà mỗi người đều có thể trở nên gần gũi với chư Phật, hay theo một ý nghĩa khác là trở về được với Phật tánh chân thật của chính mình.

Xe hoa thứ hai và thứ ba là hai xe lầu chuông, lầu trống, hai biểu tượng hầu như thân quen với tất cả mọi người Việt Nam, kể cả những người không phải là tín đồ Phật giáo. Bởi vì tất cả những ngôi chùa ở Việt Nam, không chùa nào là không có chuông và trống. Nếu như tiếng trống trầm hùng vốn đã thân quen với người Việt ngay từ buổi đầu lập quốc, thì tiếng trống nghi lễ của những ngôi chùa Phật giáo dễ dàng trở nên gần gũi với mọi người dân Việt cũng là điều hoái toái dễ hiểu.

Trong khi đó, âm thanh ngân nga hiền dịu của tiếng chuông chùa cũng đã sớm đi vào tâm thức của người dân Việt từ làng quê cho đến thị thành, nên mỗi khi nghe tiếng chuông ngân thì không một người Việt xa xứ nào lại không chạnh lòng nhớ về quê hương, xứ sở. Điều đó cho thấy chuông và trống không còn chỉ là những biểu tượng thuần túy tôn giáo nữa, mà đã trở thành một phần trong tâm thức văn hóa của toái dân tộc. Trên hai chiếc xe hoa này là mô hình thu nhỏ nhưng không kém phần uy nghi của một lầu chuông và một lầu trống, với kiến trúc mái cong cổ truyền hai tầng thường thấy ở tất cả các chùa, đình người Việt.

Xe hoa thứ tư tái hiện cảnh “Thánh mẫu Ma-da mộng ứng điềm lành”, tức là truyền tích về việc hoáig hậu Ma-da, vợ vua Tịnh Phạn (Sud dho da na), một đêm kia nằm mộng thấy con voi trắng 6 ngà từ trên cung trời Đâu-suất (Tuṣita) khoan thai đi xuống, chui vào hông bên phải của bà. Từ đó bà mang thai để rồi sinh ra thái tử Tất-đạt-đa. Người Ấn Độ thời đó xem hình tượng voi trắng 6 ngà là voi chúa, là bậc tôn quý nhất. Và Hoáig hậu Ma-da mộng thấy voi trắng 6 ngà chính là điềm lành báo trước việc đức Phật đản sinh, bởi con voi ấy chính là tượng trưng cho Bồ Tát Hộ Minh từ cung trời Đâu-suất hiện xuống.

Ngài là bậc Bồ Tát “nhất sanh bổ xứ”, thị hiện ở cõi Tabà này để cứu độ chúng sinh. Xe hoa này được trang hoáig rất đẹp, với con voi trắng khổng lồ trong tư thế ngẩng đầu lên cao, vòi đưa về phía trước, vừa hiền hòa vừa oai vệ. Bên thành xe phía dưới là dòng chữ rất lớn: “Hạnh phúc thay đức Phật ra đời”. Xe hoa thứ năm tái hiện cảnh “đức Phật đản sinh trong vườn Lamtì-ni” thật sống động, với khung cảnh khu thánh địa được thu nhỏ nhưng không kém phần xinh đẹp, lộng lẫy. Đặc biệt, một em bé có khuôn mặt thật khôi ngô, hiền hậu và đôi mắt tròn xoe xinh đẹp đã được chọn để đóng vai đức Phật đản sinh, với hoáig hậu Ma-da và các cung nữ vây quanh trong trang phục Ấn Độ cổ xưa cũng đều là người thật!

Trên thành xe có dòng chữ “Vui thay chánh pháp quang minh” và một chữ 佛 (Phật) viết với nét lớn trên tấm phông màn phía sau xe. Xe hoa này nhắc lại truyền tích về sự đản sinh của thái tử Tất-đạt-đa. Ngài đã không sinh ra trong cung vua tráng lệ, mà là trong một khu vườn xinh đẹp bên ngoài kinh thành, giữa cảnh thiên nhiên bao la và hoa thơm cỏ lạ. Đó là khu vườn mà hoáig hậu Ma-da trên đường về quê mẹ đã ghé vào nghỉ chân trong chốc lát rồi đản sinh thái tử.

Truyền tích nói rằng, ngài không sinh ra theo cách bình thường như những đứa trẻ khác, mà đã đản sinh từ hông bên phải của hoáig hậu, khi bà vươn tay vịn vào cành hoa Vô ưu. Khi ngài vừa đản sinh đã bước đi 7 bước, có 7 đóa hoa sen liên tiếp hiện ra đỡ dưới chân ngài. Rồi ngài dừng lại, tay phải chỉ lên trời, tay trái chỉ xuống đất và nói lên rằng: “Trên trời dưới trời, chỉ có ta là tôn quý hơn hết.” ( 天上天下維我獨尊 – Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn.) Tuyên ngôn này về sau đã được ngài mở rộng ra thành cả một hệ thống tư tưởng triết lý siêu việt, đánh đổ tất cả các triết thuyết hữu ngã và phi ngã hiện có trong thời ấy, và còn có giá trị vượt qua cả thời gian, không gian để tồn tại mãi đến ngày nay, sau hơn 25 thế kỷ, lan rộng khắp thế giới, không chỉ giới hạn trong bờ cõi Ấn Độ.

Thánh tích Lam-tì-ni không chỉ là được nhắc tới trong truyền tích, mà là một thánh địa có thật đã được xác nhận qua các chứng cứ của ngành khảo cổ, đặc biệt là vào năm 1897 đã phát hiện được trụ đá của vua A-dục (Aśoka) dựng lên tại khu vườn này vào năm 249 trước Công nguyên, trên đó có ghi khắc rõ về sự kiện đức Phật đản sinh và nhiều chi tiết khác rất quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo vào giai đoạn khởi đầu. Xe hoa thứ sáu dựng lại cảnh vị tiên A-tư-đà (Asita) xem tướng.

Truyền tích kể rằng, khi đức Phật đản sinh, vua Tịnh Phạn đã vui mừng cho mời tất cả các vị Bà-la-môn và tiên nhân nổi tiếng đến để xem tướng cho thái tử. Vị tiên A-tư-đà khi ấy tuổi đã khá cao, ẩn tu trên dãy núi Hymã-lạp sơn. Tuy nhiên, bằng thần thông của mình, vị tiên ấy biết được sự đản sanh của đức Phật và đã xuống núi, tìm đến để xem tướng cho Ngài.

Chính tiên A-tưđà đã thấy được 32 tướng tốt của đức Phật và do đó dự báo trước Ngài sẽ không kế tục ngôi báu của vua Tịnh Phạn, mà sẽ xuất gia tu tập để trở thành bậc Đạo sư dắt dẫn cho toái nhân loại.

Xe hoa thứ bảy tái hiện cảnh “thái tử xuất gia”. Trên xe là một con ngựa to lớn như ngựa thật trong tư thế sãi vó phi nước đại, với thái tử Tất-đạt-đa mặc y phục màu vàng, áo choáig đỏ thắm uy nghi trên lưng ngựa, theo sau là Xa-nặc. Bên thành xe là dòng chữ lớn: “Hạnh phúc thay đức Phật ra đời”.

Theo truyền tích, lời dự báo của vị tiên A-tư-đà đã làm cho vua Tịnh Phạn vừa mừng vừa lo sợ. Ông mừng vì biết thái tử là bậc vĩ nhân xuất thế, nhưng lại lo sợ về việc ngài sẽ bỏ cung vàng điện ngọc mà ra đi xuất gia tìm đạo. Vì thế, ông đã tìm mọi cách để cách ly thái tử với đời sống của dân thường, chỉ để ngài tiếp xúc với toái những điều tốt đẹp nhất trong cung vua, với hy vọng như thế sẽ giữ chân ngài không đi vào con đường tu tập.

Nhưng những cố gắng của ông đã hoái toái vô ích. Khi đến tuổi trưởng thành, chỉ qua mấy lần du ngoạn ra bốn cổng thành, thái tử đã lập tức nhận ra tính chất giả tạm và khổ đau của cuộc đời trần tục, và ngay lúc ấy ngài đã nung nấu ý chí xuất gia tìm đạo giải thoát.

Nhận ra điều đó, vua Tịnh Phạn liền lập tức tìm cho ngài một người vợ xinh đẹp nết na là công chúa Da-du Đà-la (Yaśodharā), vì nghĩ rằng vợ đẹp con ngoan sẽ là sợi dây trói vô hình không cho phép ngài rời bỏ đời sống trong cung vàng điện ngọc.

Nhưng ông đã lầm. Những ràng buộc thế tục không thể làm vướng chân bậc vĩ nhân xuất thế. Một đêm kia, ngài lặng lẽ rời bỏ kinh thành, cùng người hầu thân tín là Xanặc (Channa) và con ngựa Kiền trắc (Kanthaka) vượt qua dòng sông A-nô-ma trong màn đêm tĩnh mịch, dưới ánh trăng đêm mồng 8 tháng 2 để khởi đầu cuộc hành trình tìm đạo giải thoát.

Xe hoa thứ tám tái hiện cảnh nàng Tu-xà-đề (Sujata) dâng sữa lên đức Phật. Đây là vào giai đoạn trước khi đức Phật thành đạo. Qua 6 năm trời tu khổ hạnh, mỗi ngày chỉ ăn một hạt mè, đức Phật nhận ra một điều là sự khổ hạnh không dẫn đến giải thoát mà chỉ làm suy kiệt sức khỏe, vốn là yếu tố vô cùng cần thiết để có thể sáng suốt tìm ra chân lý. Vì thế ngài quyết định từ bỏ lối tu khổ hạnh và bắt đầu thọ nhận sự cúng dường của tín thí.

Chính bát sữa dâng cúng của nàng Tuxà-đề đã giúp Ngài lấy lại sức khỏe để bước vào giai đoạn thiền định tìm ra chân lý. Xe hoa thứ chín tái hiện khung cảnh Phật thành đạo dưới gốc cây bồ đề tại Bồ-đề Đạo trường. Thánh tích này đến nay vẫn còn được giữ gìn nguyên vẹn. Tại Việt Nam có 2 cây bồ đề ở chùa Tam Bảo, số 327 đường Phan Chu Trinh, thành phố Đà Nẵng là những cây con được lấy từ cây bồ đề này. Tuy trên xe hoa không thể hiện được đúng khung cảnh thánh tích Bồ-đề Đạo trường, nhưng tượng Phật Thích-ca uy nghi đã tạo được một khung cảnh rất trang nghiêm, thành kính.

Xe hoa thứ mười là cảnh đức Phật “sơ chuyển Phật luân”, nghĩa là lúc Phật thuyết pháp lần đầu
tiên sau khi thành đạo tại vườn Lộc Uyển (vườn Nai) cho 5 vị đệ tử đầu tiên là 5 anh em ông Kiều trần – như.

Trên xe thể hiện rõ cảnh đức Phật ngồi thuyết pháp với 5 vị đệ tử cùng lắng nghe. Bên dưới thành xe là dòng chữ lớn “Kính mừng Phật đản”. Chính trong lần thuyết pháp này, Phật đã giảng rõ pháp Tứ đế, tức là 4 chân lý: Khổ, Tập, Diệt, Đạo, mà sau này trở thành giáo lý cơ bản của Phật giáo Tiểu thừa. Xe hoa thứ mười một thể hiện hình ảnh bánh xe Chánh pháp (Pháp luân) và con thuyền Bátnhã, là những biểu tượng quen thuộc của Phật giáo.

Xe trang hoàng đẹp, với bánh xe sáng rực chầm chậm quay vòng, phần giữa bánh xe được trang trí thành 8 cánh tượng trưng cho Bát chánh đạo.

Trên xe còn có cả tượng Phật đản sinh ở phía trước. Toái bộ chiếc xe được tạo hình thành con thuyền Bát-nhã với đèn hoa rực sáng, chầm chậm trôi đi giữa đường phố đông nghịt người xem. Xe hoa thứ mười hai là biểu tượng “đạo Phật truyền khắp năm châu”.

Trên xe là một quả địa cầu lớn có vẽ hình năm châu, với tượng Phật đản sanh đứng trên tòa sen bên trên quả địa cầu. Khi xe đi, quả địa cầu cũng chầm chậm quay vòng thật ngoạn mục. Phía trước xe là dòng chữ lớn “Kính mừng Phật đản” được bố trí theo hình cong bao quanh biểu tượng Pháp luân và phía sau xe là đại kỳ Phật giáo 5 màu. Cả dòng chữ và Pháp luân đều có đèn sáng từ bên trong, liên tục nhấp nháy trông rất ấn tượng.

Xe hoa thứ mười ba thể hiện cảnh “đức Phật nhập Niết-bàn”. Trên xe là tượng Phật nằm nghiêng về bên phải, trong tư thế trước lúc nhập Niết-bàn.

Theo Kinh Đại Bát Niết-bàn ghi lại, sau hơn 49 năm đi khắp nơi để hoằng hóa độ sinh, cuối cùng vào tuổi 80 đức Phật đã nhập Niết-bàn dưới 2 cây sa-la m ọc cạnh bên nhau ở xứ Câu-thi-na. Cho đến thời điểm này, những điều mà ngài thuyết dạy đã đủ để về sau được các đệ tử ghi chép lại thành ba tạng kinh điển đồ sộ mà ngày nay chúng ta vẫn còn thấy được.

Xe hoa thứ mười bốn thể hiện hình ảnh trụ đá của vua A-dục, được dựng lên làm chứng tích ghi lại những sự kiện về đức Phật. Trụ đá có hình thù rất kỳ thú, đó là bốn con sư tử đứng quay lưng vào nhau trong tư thế rất uy nghiêm. Vua A-dục là một trong các vị vua hết lòng ủng hộ Phật pháp. Trong thời gian trị vì của ông (từ năm 272 đến năm 236 trước Công nguyên), đạo Phật đã phát triển rất mạnh trên toái cõi Ấn Độ, tạo điều kiện để về sau lan truyền ra khắp vùng châu Á, và sau nữa là ra khắp thế giới.

Ông đã ban hành nhiều đạo luật, sắc lệnh để hỗ trợ cho sự phát triển của đạo Phật, khuyến khích việc ăn chay và chính thức cấm hẳn việc giết súc vật để cúng tế. Trong lịch sử Phật giáo, ông là người luôn được nhớ đến với sự kính trọng.

Xe hoa thứ mười lăm trang hoáig bằng lá đại kỳ Phật giáo. Cờ Phật giáo hiện được sử dụng có 5 màu, theo thứ tự từ trụ cờ ra là màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng và màu da cam, mỗi màu là một vạch xuôi theo cột cờ. Ngoài cùng là một vạch thứ sáu gồm đủ 5 màu, xếp theo thứ tự từ trên xuống cũng là xanh, vàng, đỏ, trắng và da cam.

Vạch thứ sáu này tượng trưng cho sự tổng hợp cả 5 màu trong các vạch trước. Lá cờ này lần đầu tiên được sử dụng tại Tích Lan vào năm 1885. Đến ngày 25 tháng 5 năm 1910, Đại hội Phật giáo thế giới họp tại thủ đô của Tích Lan, gồm 26 phái đoái Phật giáo khắp thế giới, trong đó có phái đoái Phật giáo Việt Nam, đã chính thức công nhận lá cờ này là biểu tượng của Phật giáo khắp thế giới. Năm màu sắc trên lá cờ là tượng trưng cho hào quang trí tuệ của đức Phật soi sáng khắp cõi thế giới, xua tan tất cả sự mê lầm, u tối.

Năm màu này còn là tượng trưng cho 5 sức mạnh mà thuật ngữ Phật giáo gọi là Ngũ lực. Đó là tín lực, tinh tấn lực, niệm lực, định lực và huệ lực. Vạch cuối cùng có đủ 5 màu là tượng trưng cho sự kết hợp và hòa hợp. Sự kết hợp cả 5 sức mạnh nói trên tạo thành sức mạnh vô biên có thể vượt qua tất cả mọi chướng ngại trên con đường tu tập, sớm đưa con người đến chỗ giải thoát rốt ráo. Sự hòa hợp là bản sắc vốn có của Phật giáo từ khi hiện diện trên trái đất này cho đến ngày nay.

Bởi vì Phật giáo luôn khuyến khích sự hòa hợp trong mọi cộng đồng, mọi tổ chức cũng như quốc gia, dân tộc… Mặc dù đã trải qua hơn 25 thế kỷ tồn tại và lan rộng khắp nơi trên thế giới, Phật giáo chưa
từng có lúc nào dùng đến bạo lực hay bất cứ hình thức áp lực nào để ép buộc người khác phải tin theo, mà luôn phát triển trong tinh thần tự nguyện tin nhận cũng như hòa hợp chung sống với tất cả các cộng đồng khác nhau, với các nền văn hóa, tín ngưỡng khác nhau.

Xe hoa thứ mười sáu mang chủ đề “Cầu nguyện hòa bình thế giới”, với biểu tượng hai bàn tay thả chim bồ câu trắng và hai dòng chữ lớn hai bên thành xe: “Thế giới hòa bình” và “Chúng sanh an lạc”.

Từ xe thứ mười bảy đến xe thứ ba mươi là sự lập lại các chủ đề đã có, nhưng với những đường nét trang trí và sắc thái có phần khác biệt hơn. Chẳng hạn như xe thứ mười bảy là xe “voi trắng 6 ngà”, với hình tượng voi trắng 6 ngà rất lớn và tượng Phật đản sinh phía trước, trên có lọng che.

Xe thứ mười tám với chủ đề “Đức Phật đản sinh” với tượng Phật đản sinh rất lớn.

Xe thứ mười chín cũng cùng chủ đề này nhưng mô tả cảnh đức Phật đản sinh bước đi 7 bước trên 7 đóa hoa sen, gọi là “thất bộ hành liên”.

Xe thứ hai mươi mang chủ đề “Dâng hoa cúng Phật”.

Xe thứ hai mươi mốt cũng lấy chủ đề “tiên A-tư-đà xem tướng” nhưng thể hiện theo một cách khác hơn.

Xe thứ hai mươi hai cũng lấy chủ đề “thái tử xuất gia” nhưng thể hiện cảnh thái tử vượt qua dòng sông A-nô-ma trên lưng ngựa Kiền-trắc.

Xe thứ hai mươi ba thể hiện cảnh thái tử “cắt tóc xuất gia”. Đặc biệt trên xe có hình một lá bồ đề rất lớn với hai mặt có hai tượng Phật đản sinh và Phật thành đạo, liên tục xoay tròn khiến người xem nhìn lên thấy mỗi lúc mỗi khác.

Xe thứ hai mươi bốn cũng là chủ đề “Đức Phật thành đạo”, nhưng thể hiện cây bồ đề và tượng Phật thành đạo đồ sộ hơn, có cả khung cảnh dòng sông Ni-liên-thiền hiện ra phía sau cây bồ đề.

Xe thứ hai mươi lăm cũng với chủ đề “Đức Phật sơ chuyển Pháp luân”, còn xe thứ hai mươi sáu lập lại chủ đề “Đức Phật đản sinh”.

Xe thứ hai mươi bảy thể hiện cảnh “vườn Lam-tì-ni” với những đường nét trang trí khác biệt hơn.

Xe thứ hai mươi tám cũng dựng cảnh “Đức Phật đản sinh”, trong khi xe thứ hai mươi chín là chủ đề “Đức Phật thị hiện”, và xe thứ ba mươi cuối cùng cũng lấy chủ đề “vườn Lam-tì-ni”. Một số lớn các vị tăng ni và Phật tử dùng xe máy hộ tống theo đoái xe hoa, những xe này đều có cắm cờ Phật giáo khổ lớn. Trên đường phố cố đô, đoái xe hoa 30 chiếc rực rỡ ánh đèn với đủ màu sắc, nối đuôi nhau chầm chậm đi qua, vây quanh là màu áo vàng của chư tăng, màu cờ Phật giáo năm sắc tung bay trong gió, cùng với màu áo lam và những chiếc nón rộng vành đặc biệt của các anh huynh trưởng Gia đình Phật tử (GĐPT), tất cả đều rất quen thuộc với người dân Huế, tạo thành một quang cảnh vô cùng ngoạn mục trong đêm Đại lễ Phật đản.

Khi đoái xe qua cầu vượt ngang dòng sông Hương, ánh đèn rực rỡ phản chiếu mặt nước sông lấp lánh tạo thành một cảnh đẹp huy hoáig chưa từng thấy. Người dân thành phố rủ nhau đi xem hội, đổ xô ra đứng đông nghịt hai bên đường, lại có không ít người dùng xe gắn máy, xe đạp… đi theo sau đoái xe để xem được lâu hơn. Có những nơi quá đông, người ta chen nhau giẫm cả lên những bồn hoa, bờ cỏ xanh ven đại lộ. Thấp thoáng đó đây những bộ đồng phục của các anh công an giao thông hối hả chạy tới chạy lui để giữ trật tự, đảm bảo cho đoái xe vẫn tiếp tục lăn bánh đều đặn.

Tiếng nhạc lễ, tiếng còi xe, tiếng người gọi nhau, hòa với tiếng cười nói của hàng vạn người dân thành phố, tạo thành một không khí lễ hội thực sự náo nức mà không đâu có được. Một sinh hoạt khác thường thấy trong dịp lễ Phật đản là những buổi cắm trại của thanh thiếu niên GĐPT, và luôn kèm theo với chương trình văn nghệ Phật giáo vào đêm rằm tháng tư.

Đây là hoạt động đặc biệt lôi cuốn giới trẻ.

Các em đến với nhau để cùng chào mừng ngày Phật đản bằng những lời ca tiếng nhạc đơn sơ bên ánh lửa trại bập bùng, không mang tính cách biểu diễn mà chỉ là “hát cho nhau nghe” với những nội dung về ngày Phật đản, để nhắc nhở nhau luôn sống xứng đáng là những người con Phật.

Đại lễ Phật đản quả thật không chỉ mang ý nghĩa riêng của một tôn giáo, mà là một lễ hội mang đậm tính chất văn hóa truyền thống của người Việt, hòa vào không khí chung của những lễ hội toái quốc, cuốn hút sự quan tâm của tất cả mọi người.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *