Mong muốn từ tác phẩm: Nhà đầu tư thông minh

Mong muốn từ tác phẩm: Nhà đầu tư thông minh

Mục đích của cuốn sách Nhà đầu tư thông minh này, dưới dạng thích hợp cho những người bình thường, là hướng dẫn việc tiếp nhận và thực hiện một phương châm đầu tư. Sách sẽ không nói nhiều về kỹ thuật phân tích chứng khoán, mà trọng tâm phần lớn được đặt vào các nguyên tắc đầu tư và thái độ của nhà đầu tư.

Tuy nhiên, chúng tôi sẽ cung cấp một số so sánh súc tích về những chứng khoán nhất định – chủ yếu là theo các cặp xuất hiện cạnh nhau trong danh sách niêm yết của sở Giao dịch Chứng khoán New York – để nhấn mạnh một cách cụ thể những yếu tố quan trọng liên quan tới các lựa chọn cụ thể trong cổ phiếu thường (cổ phiếu phổ thông). Nhưng phần lớn thời gian chúng tôi sẽ dành để nói về các mô thức lịch sử của các thị trường tài chính, trong một số trường hợp sẽ là vài chục năm về trước.

Để đầu tư một cách thông minh vào chứng khoán, ta cần chuẩn bị trước một lượng kiến thức kha khá về cách các trái phiếu và cổ phiếu đã thực sự biểu hiện thế nào trong các điều kiện thay đổi – mà ít nhất vài điều kiện trong đó ta sẽ một lần trải qua. Không có câu nói nào đúng hơn và áp dụng chuẩn hơn đối với Phố Wall như câu cảnh báo của Santayana[6]: “Những ai không nhớ tới quá khứ chắc chắn sẽ lặp lại nó.”

Cuốn sách nhà đầu tư thông minh của chúng tôi hướng tới các nhà đầu tư, khác với nhà đầu cơ, và nhiệm vụ đầu tiên của chúng tôi là làm rõ và nhấn mạnh sự khác biệt gần như bị lãng quên này. Chúng tôi có thể nói ngay từ đầu, đây không phải là cuốn sách dạy “cách kiếm tiền tỷ”. Không có con đường chắc chắn hoặc dễ dàng nào để làm giàu ở Phố Wall hay bất kỳ nơi nào khác. Có thể chỉ ra những gì chúng tôi vừa nói bằng một chút lịch sử tài chính – đặc biệt là vì có hơn một bài học có thể rút ra từ đó.

Trong năm đỉnh điểm 1929, John J. Raskob, một nhân vật quan trọng trong cả nước cũng như ở Phố Wall, đã tán dương những điều lành của chủ nghĩa tư bản trong Tạp chí gia đình của phụ nữ (Ladies’ Home Journal), dưới tiêu đề “Ai cũng có thể giàu”[7].

Giả thiết của ông là chỉ với lượng tiết kiệm 15 đô la đầu tư vào những cổ phiếu phổ thông tốt – với cổ tức được tái đầu tư – sẽ tạo ra lượng tài sản trị giá 80.000 đô la trong 20 năm, so với tổng lượng đầu tư chỉ có 3.600 đô la. Nếu ông trùm của General Motors đã nói đúng thì đó đúng là con đường dễ dàng dẫn tới sự giàu có.

Ông đã đúng tới mức độ nào?

Tính toán sơ bộ của chúng tôi – dựa trên sự đầu tư giả định vào 30 cổ phiếu hình thành nên chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones (DJIA) – đã chỉ ra rằng nếu làm theo lời chỉ dẫn của Raskob trong giai đoạn 19291948, thì cổ phần của nhà đầu tư vào đầu năm 1949 sẽ có giá trị khoảng 8.500 đô la.

Tác phẩm Nhà đầu tư thông minh

Đây là sự khác biệt lớn so với lời hứa hẹn 80.000 đô la của con người vĩ đại này, và nó chỉ ra rằng ta khó có thể tin tưởng vào những lời dự báo và hứa hẹn lạc quan được. Nhưng, như một nhận xét ngoài lề, chúng ta có thể nhận thấy rằng mức sinh lợi được hiện thực hóa bằng kế hoạch 20 năm đó còn tốt hơn 8% lãi suất cộng dồn hằng năm – và điều này có được bất chấp việc nhà đầu tư bắt đầu mua bán với DJIA ở mức 300 và kết thúc ở mức định giá dựa trên mức đóng cửa năm 1948 là 177.

Thành tích này có thể được coi là luận cứ thuyết phục cho nguyên tắc mua bán hằng tháng các cổ phiếu thường, mạnh, dù trải qua thuận lợi hay bất lợi – một phương pháp được gọi là “bình quân chi phí đô la”.

Vì cuốn sách Nhà đầu tư thông minh của chúng tôi không phải để dành cho các nhà đầu cơ, nó không phải để dành cho những người kinh doanh kiểu buôn đi bán lại trên thị trường. Hầu hết những người này đều làm theo biểu đồ, hay những cách thức máy móc khác để xác định thời điểm đúng để mua hay bán. Một quy tắc áp dụng cho hầu hết các cách thức được gọi là “tiếp cận kỹ thuật” này là ta nên mua vì cổ phiếu hay thị trường đã bắt đầu đi lên, và ta nên bán vì nó đã bắt đầu đi xuống. Đây là điều ngược lại hoàn toàn với cách suy nghĩ kinh doanh vững chắc ở tất cả những nơi khác, và rất khó có khả năng nó sẽ tạo ra thành công lâu dài trên Phố Wall.

Với kinh nghiệm và sự quan sát thị trường chứng khoán của riêng mình trong hơn 50 năm, chúng tôi chưa từng được biết đến một người nào mà lại có thể liên tục và lâu dài kiếm ra tiền bằng cách “đi theo thị trường”. Chúng tôi không ngần ngại nói lại rằng cách thức tiếp cận này là sai lầm, trong khi nó lại thông dụng. Chúng tôi sẽ mô tả điều mình vừa nói – nhưng, tất nhiên điều này không thể lấy làm chứng cứ – bằng một thảo luận sơ qua về lý thuyết Dow nổi tiếng cho việc kinh doanh trong thị trường cổ phiếu[8].

Từ lần đầu xuất bản vào năm 1949, những lần tái bản cửa Nhà đầu tư thông minh đã được phát hành theo những khoảng thời gian 5 năm một. Trong khi cập nhật bản hiện tại, chúng tôi đã phải xử lý một lượng đáng kể các diễn biến mới từ khi bản 1965 được viết.

Chúng bao gồm:

1.Sự tăng mạnh chưa từng có trong mức lãi suất của các trái phiếu cấp cao.

2.Sự giảm khoảng 35% giá của các cổ phiếu thường hàng đầu, kết thúc vào tháng 5 năm 1970. Đây là số phần trăm giảm lớn nhất trong khoảng 30 năm (vô số các cổ phiếu khác với chất lượng thấp hơn có mức giảm lớn hơn nhiều).

3.Mức lạm phát kéo dài đối với giá bán buôn và giá bán lẻ, vẫn còn đà tăng thậm chí cả khi đối mặt với sự giảm sút của việc kinh doanh chung vào năm 1970.

4.Sự phát triển nhanh chóng của các công ty kiểu “tập đoàn đa lĩnh vực” (“conglomerate”), các hoạt động nhượng quyền thương mại, và nhiều sáng chê’ khá mới mẻ khác trong kinh doanh và tài chính (trong đó có cả một số công cụ mánh khóe như “cổ phiếu thư” (“letter stock”)[9], chứng chỉ quyền mua cổ phiếu (stock-option warrant), những cái tên gây hiểu nhầm, việc sử dụng các ngân hàng nước ngoài, vân vân)[10].

5. Sự phá sản của công ty đường sắt lớn nhất nước Mỹ, những món nợ ngắn hạn và dài hạn quá nhiều của những công ty trước đó vốn được cố thủ một cách kiên cố, và thậm chí là cả vấn đề đáng lo ngại về khả năng trả nợ, thanh toán giữa các công ty ở Phố Wall[11].

6. Sự xuất hiện mốt “thành tích” trong việc quản lý các quỹ đầu tư, kể cả một số quỹ ủy thác do ngân hàng điều hành, gây ra những hệ quả đáng lo ngại. Những hiện tượng này sẽ được chúng tôi xem xét cẩn thận, và một số hiện tượng sẽ đòi hỏi có sự thay đổi kết luận và nhấn mạnh so với lần xuất bản trước của chúng tôi.

Các nguyên tắc cơ bản của Nhà đầu tư thông minh phải không thay đổi từ thập kỷ này sang thập kỷ khác, nhưng việc áp dụng những nguyên tắc này phải thích ứng với các thay đổi lớn trong cơ chế và môi trường tài chính. Phát biểu cuối này đã được thử thách trong thời gian viết phiên bản sách này, mà bản thảo đầu tiên được hoàn thành vào tháng 1 năm 1971.

Vào lúc đó, DJIA đang hồi phục mạnh mẽ từ điểm đáy của nó là 632 và đã tăng lên đến điểm cao nhất là 951 vào năm 1971, kèm theo đó là niềm lạc quan của công chúng. Khi bản thảo cuối được hoàn thành vào tháng 11 năm 1971, thị trường lại đang sắp giảm sút, kéo xuống mức 797 điểm cùng với sự nghi ngại trở lại của công chúng.

Chúng tôi đã không để những dao động này ảnh hưởng tới thái độ chung của chúng tôi đối với phương thức đầu tư sáng suốt, một điều đã được giữ nguyên bản chất ngay từ ấn bản đầu tiên của cuốn sách này vào năm 1949. Mức độ suy thoái của thị trường vào những năm 1969-1970 đáng lẽ phải xua tan được một ảo tưởng đã hình thành trong hai thập kỷ qua.

Đó là những cổ phiếu thường hàng đầu có thể mua vào bất kỳ thời điểm nào, với bất kỳ giá nào, mà yên tâm rằng không chỉ có lợi nhuận sau cùng, mà bất kỳ thua lỗ can thiệp nào cũng sẽ được bù lại bằng lần tăng giá mới của thị trường, đạt mức cao mới.

Điều này quá tốt để có thể là sự thật. Cuối cùng thì thị trường chứng khoán cũng “trở lại bình thường”, theo nghĩa là cả người đầu cơ và nhà đầu tư cổ phiếu lại phải chuẩn bị sẵn sàng trải nghiệm những cuộc tăng, giảm giá trị chứng khoán lớn, có khi kéo dài. Trong khu vực của nhiều cổ phiếu thường thuộc hàng thứ hai và hàng thứ ba, nhất là những công ty mới phát hành, sự tàn phá gây ra bởi lần sụp đổ thị trường gần đây là vô cùng ghê gớm.

Không có gì mới mẻ về điều này – nó đã từng xảy ra với mức độ tương tự vào những năm 19611962 – nhưng lần này có yếu tố mới là có một số quỹ đầu tư đã đổ nhiều tiền vào những đợt phát hành chứng khoán bổ sung mang tính đầu cơ cao và bị định giá quá mức. Rõ ràng không chỉ có lính mới mới cần được cảnh báo rằng trong khi sự hăng hái có thể là cần thiết cho các thành công lớn ở những nơi khác, thì ở Phố Wall, nó sẽ hầu như luôn dẫn tới thảm họa.

Câu hỏi chủ yếu mà chúng ta sẽ phải xem xét xuất phát từ sự tăng ghê gớm tỉ lệ lãi suất của những trái phiếu hàng đầu. Từ cuối năm 1967, nhà đầu tư có thể thu được gấp đôi lợi nhuận từ những trái phiếu này, cũng như từ cổ tức của các cồ phiếu thường tiêu biểu. Vào đầu năm 1972, mức sinh lợi là 7,19% với các trái phiếu cấp cao nhất, so với chỉ có 2,76% của các cổ phiếu công nghiệp (có thể so với các con số lần lượt là 4,40% và 2,92% vào cuối năm 1964). Thật khó mà có thể nghĩ được là khi chúng tôi lần đầu viết cuốn sách này vào năm 1949 thì các con số gần như ngược lại hoàn toàn: trái phiếu chỉ có mức sinh lợi 2,66% và cổ phiếu thì là 6,82%[12]. Trong các phiên bản sách trước, chúng tôi đã liên tục khuyên các nhà đầu tư thận trọng nên dành ít nhất 25% danh mục đầu tư của mình cho cổ phiếu thường, trong khi chúng tôi nói chung thường thiên về sự phân chia 50-50 giữa cổ phiếu và trái phiếu.

Chúng tôi hiện giờ phải suy xét xem liệu lợi thế lớn của trái phiếu so với cổ phiếu hiện nay có thể biện hộ cho một phương thức đầu tư toàn trái phiếu cho tới khi một mối quan hệ hợp lý hơn sẽ quay trở lại, và chúng tôi cho rằng điều đó sẽ xảy ra. Dĩ nhiên câu hỏi về lạm phát kéo dài sẽ rất quan trọng trong quyết định của chúng tôi ở đây. Một chương sẽ được dành cho thảo luận về vấn đề này[13]. Trong quá khứ, chúng tôi đã đưa ra sự phân biệt cơ bản giữa hai kiểu nhà đầu tư mà quyển sách này hướng tới – kiểu “phòng vệ” và kiểu “mạnh bạo”.

Kiểu nhà đầu tư phòng vệ (hay thụ động) sẽ đặt mối quan tâm chủ yếu của mình vào việc tránh các nhầm lẫn nghiêm trọng hay thua lỗ. Mục đích thứ hai của anh ta sẽ là tránh không cần phải nỗ lực, không bị phiền muộn, tránh yêu cầu phải ra quyết định thường xuyên. Tính chất phân biệt của nhà đầu tư mạnh bạo (hay chủ động, xông xáo) là sự sẵn sàng bỏ ra thời gian và sức lực để lựa chọn các cổ phiếu vừa vững và vừa hấp dẫn hơn so với loại thường.

Qua nhiều thập kỷ, một nhà đầu tư mạnh bạo kiểu này có thể hy vọng nhận được phần thưởng xứng đáng với nỗ lực nhiều hơn và kỹ năng cao hơn của mình, dưới dạng một mức sinh lợi trung bình cao hơn là mức sinh lợi của nhà đầu tư thụ động.

Chúng tôi có một chút nghi ngờ rằng liệu thật sự có nhiều phần thưởng hơn cho nhà đầu tư chủ động trong các điều kiện ngày nay hay không.

Nhưng năm sau hay nhiều năm sau nữa có thể sẽ khác rất nhiều.

Do đó, chúng tôi sẽ tiếp tục dành sự chú ý cho các cơ hội đầu tư mạnh bạo như chúng đã từng tồn tại trong các giai đoạn trước đây và còn có thể quay trở lại. Đã từ lâu, quan điểm phổ biến là nghệ thuật thành công trong đầu tư trước hết là nằm ở việc chọn những ngành có khả năng lớn sẽ phát triển trong tương lai, và sau đó tìm ra những công ty hứa hẹn nhất trong những ngành đó.

Ví dụ, các nhà đầu tư thông minh – hay cố vấn thông minh – từ lâu đã có thể nhận ra khả năng phát triển rất lớn của ngành công nghiệp máy tính nói chung và của công ty International Business Machines (IBM) nói riêng.

Và cũng tương tự như vậy đối với các ngành công nghiệp đang phát triển và các công ty đang phát triển khác.

Nhưng đây không phải là một việc dễ như ta tưởng khi nhìn lại quá khứ. Để thể hiện điều đó, ở ngay đầu chúng tôi sẽ thêm một đoạn mà chúng tôi đã viết trong bản 1949 của cuốn sách này. Một Nhà đầu tư thông minh như vậy có thể, chẳng hạn, là người mua những cổ phiếu hàng không vì anh ta tin rằng tương lai của chúng còn tuyệt vời hơn cả những gì mà xu thế thị trường phản ánh.

Với kiểu nhà đầu tư này, giá trị cuốn sách này của chúng tôi là ở những lời cánh báo về cạm bẫy đang rình rập trong cách tiếp cận đầu tư được ưa thích đó, chứ không phải ở những kỹ thuật tích cực nào sẽ giúp anh ta trên con đường của mình[14]. Các cạm bẫy đã chứng tỏ là chúng đặc biệt nguy hiểm trong ngành mà chúng tôi nói tới. Tất nhiên là rất dễ để dự đoán rằng quy mô ngành vận tải hàng không sẽ phát triển vượt bậc trong những năm tới.

Vì yếu tố này mà cổ phần của nó trở thành lựa chọn được ưa thích đối với các quỹ đầu tư.

Nhưng mặc dù có mức tăng doanh thu – ở nhịp độ còn cao hơn cả ngành công nghiệp máy tính – một tổ hợp các vấn đề khó khăn về công nghệ và mở rộng quá khả năng đã dẫn đến những con số lợi nhuận biến động và thậm chí tai hại. Vào năm 1970, mặc dù các con số về lưu lượng vận tải đạt một mức cao mới, ngành hàng không gây lỗ khoảng 200 triệu đô la cho các cổ đông của họ (họ cũng đã chịu lỗ vào năm 1945 và năm 1961). cổ phiếu của các công ty hàng không một lần nữa chịu sự giảm sút lớn hơn vào các năm 1969-1970, so với thị trường chung, sổ sách cho thấy cả những chuyên gia lương cao của các quỹ đầu tư tương hỗ[15] cũng nhầm hoàn toàn về tương lai khá ngắn hạn của một ngành công nghiệp lớn và không phải bí truyền này.
 
Mặt khác, trong khi các quỹ đầu tư đã đầu tư đáng kể và có lợi nhuận đáng kể với IBM, thì sự kết hợp giữa mức giá rõ ràng là quá cao của nó và việc không có khả năng tin chắc vào tốc độ phát triển của nó đã ngăn nhà đầu tư đặt nhiều hơn, lấy ví dụ, 3% vốn của mình vào công ty thành công kỳ diệu này.

Do đó, ảnh hưởng của lựa chọn tuyệt vời này xét về kết quả tổng thể, hoàn toàn không mang tính quyết định. Hơn nữa, phần nhiều – nếu không phải hầu hết – đầu tư của họ vào các công ty ngành công nghiệp máy tính khác ngoài IBM dường như đều không sinh lợi.

Từ hai ví dụ rõ ràng này, chúng tôi rút ra hai bài học cho người đọc:

1. Triển vọng rõ ràng về sự phát triển thực sự trong một ngành kinh doanh không tự động chuyển thành lợi nhuận chắc chắn cho nhà đầu tư.

2. Các chuyên gia không có các cách thức đáng tin cậy để lựa chọn và tập trung vào các công ty hứa hẹn nhất trong những ngành hứa hẹn nhất. Tác giả đã không đi theo cách tiếp cận này trong sự nghiệp tài chính của mình với tư cách là một nhà quản lý quỹ, và ông không thể đưa ra lời khuyên cụ thể hay khuyến khích gì nhiều với những người muốn thử nó.

Vậy chúng tôi muốn đạt được điều gì trong cuốn sách Nhà đầu tư thông minh này?

Mục đích chính của chúng tôi sẽ là hướng dẫn người đọc tránh khỏi các lĩnh vực có thể gặp phải sai râm lớn và phát triển các phương thức đầu tư mà anh ta cảm thấy thoải mái. Chúng tôi sẽ nói khá nhiều về tâm lý nhà đầu tư.

Thật vậy, vấn đề chính của nhà đầu tư – và kẻ thù lớn nhất của anh ta – có lẽ chính là anh ta. (“Nhà đầu tư thân mến, lỗi lầm không phải do số phận của chúng ta – và cũng không phải do cổ phiếu của chúng ta – mà là do chính chúng ta…”) Điều này càng cho thấy là chuẩn xác hơn trong các thập kỷ gần đây, khi mà nhà đầu tư thận trọng cần phải mua các cổ phiếu thường và do đó, dù muốn hay không, phơi mình trước sự nhộn nhạo và các cám dỗ của thị trường chứng khoán. Bằng các lý lẽ, các ví dụ và những lời cổ vũ, chúng tôi hy vọng giúp người đọc tạo được thái độ đúng về mặt tâm lý và tinh thần đối với các quyết định đầu tư của mình.

Chúng tôi đã nhìn thấy ngày càng có nhiều tiền hơn được làm ra và giữ bởi những “người bình thường” có tâm lý phù hợp với quá trình đầu tư, so với những người thiếu phẩm chất này, mặc dù họ có được kiến thức rộng lớn về tài chính, kế toán và thị trường chứng khoán. Hơn nữa, chúng tôi hy vọng có thể tạo cho người đọc khả năng đo lường hay xác định số lượng. Đối với 99 trong số 100 đợt phát hành, chúng tôi có thể nói được rằng, với giá này thì chúng đủ rẻ để mua, còn với giá khác thì chúng đủ đắt để bán.

Thói quen liên hệ những gì đang được trả giá với cái đang được bán, là một tính chất vô giá trong đầu tư. Trong một bài báo trên một tạp chí của phụ nữ từ nhiều năm trước, chúng tôi đã khuyên người đọc mua cổ phiếu giống như họ mua đồ tạp hóa, chứ không như mua nước hoa.

Các thua lỗ tệ hại thật sự trong vài năm gần đây (và trong cả nhiều dịp tương tự trước đó), đã xảy ra đối với các phát hành cổ phiếu thường, khi người mua quên hỏi “Bao nhiêu?” Vào tháng 6 năm 1970, câu hỏi “Bao nhiêu?” có thể được trả lời bằng con số kỳ diệu 9,40% – mức sinh lợi có thể thu được đối với các trái phiếu phát hành mới của ngành dịch vụ công ích cao cấp. Con số này hiện đã giảm xuống còn khoảng 7,3%, nhưng thậm chí một mức sinh lợi như vậy cũng đủ để chúng tôi hỏi ‘Tại sao lại phải đưa ra câu trả lời khác?” Nhưng đúng là có các câu trả lời khác, và chúng phải được xem xét một cách cần thận.

Ngoài ra, chúng tôi nhắc lại rằng cả chúng tôi và người đọc phải được chuẩn bị trước cho các điều kiện khác biệt có thể có; chẳng hạn trong các năm 19731977. Do vậy, chúng tôi sẽ đưa ra, với độ chi tiết nhất định, một chương trình tích cực cho việc đầu tư cổ phiếu thường mà một phần của nó nằm trong phạm vi của cả hai kiểu nhà đầu tư, và một phần thì chủ yếu hướng tới nhóm đầu tư mạnh bạo.

Lạ thay, chúng tôi sẽ đưa ra một trong những yêu cằu chủ yếu của mình là người đọc nên giới hạn mình chỉ mua những chứng khoán phát hành có giá bán không vượt quá xa giá trị tài sản hữu hình của nó[16]. Lý do cho lời khuyên có vẻ lỗi thời này vừa thực tế vừa tâm lý. Kinh nghiệm đã dạy chúng tôi rằng, trong khi có nhiều công ty phát triển tốt, có giá trị gấp nhiều lằn tài sản ròng, người mua các cổ phần này sẽ quá phụ thuộc vào sự bất thường và dao động của thị trường chứng khoán.

Ngược lại, nhà đầu tư vào cổ phiếu, chẳng hạn của các công ty dịch vụ công ích ở mức giá trị tài sản ròng của chúng luôn có thể coi mình là người sở hữu mức lãi trong một ngành kinh doanh vững chắc và đang mở rộng, được mua ở mức giá hợp lý – cho dù thị trường chứng khoán có nói điều ngược lại.

Kết quả cuối cùng của một phương châm thận trọng như vậy sẽ có khả năng thành công hơn là những phiêu lưu vào các lĩnh vực hào nhoáng và nguy hiểm được dự báo tăng trưởng. Nghệ thuật đắu tư có một phẩm chất mà thường là không được đê cao. Một kết quả chấp nhận được, kể cả là không quá xuất sắc, có thể đạt được bởi một nhà đầu tư bình thường với nỗ lực và khả năng ít nhất; nhưng để nâng cao tiêu chuần dễ dàng này lại đòi hỏi tương đối nhiều công sức và nhiều hơn là một chút khôn ngoan.

Nếu bạn chỉ cố thêm một tí kiến thức và sự thông minh vào chương trình đầu tư của mình, thì thay vì hiện thực hóa được tốt hơn kết quả thường một chút, có khi bạn lại thấy mình đã thực hiện tệ hơn. Do bất kỳ người nào – chỉ bằng cách mua và cầm giữ một danh sách chứng khoán đại diện – cũng có thể đạt được thành tích trung bình của thị trường, việc “vượt qua mức trung bình” dường như có vẻ khá là dễ dàng; nhưng sự thật là tỷ lệ những người thông minh đã thử và thất bại lại lớn một cách bất ngờ. Thậm chí phần lớn các quỹ đầu tư, với những nhân viên đầy kinh nghiệm, cũng không cho kết quả thực hiện tốt lắm qua các năm như thị trường chung.

Liên quan tới những điều nói trên là bản ghi của các dự báo thị trường chứng khoán được công bố của công ty môi giới, vì có chứng cớ vững chắc rằng các dự báo được tính toán của họ có khi còn không đáng tin cậy bằng việc tung đồng xu. Trong khi viết cuốn sách này, chúng tôi đã cố gắng chú ý đến cạm bẫy đầu tư này. Các tính chất tốt của một phương thức đầu tư đơn giản đã được nhấn mạnh – việc mua các trái phiếu cấp cao cộng với một danh mục đa dạng các cổ phiếu thường hàng đầu – điều mà bất kỳ nhà đẳu tư nào cũng có thể thực hiện mà không cần sự hỗ trợ của chuyên gia. Cuộc phiêu lưu ra ngoài khu vực an toàn và chắc chắn này chứa đãy những khó khăn thách thức, đặc biệt trong vấn đề tính khí.

Trước khi thử thực hiện một thương vụ mạo hiểm như vậy, nhà đầu tư phải tin chắc vào bản thân mình và các cố vấn của anh ta đặc biệt là xem các cố vấn đó có khái niệm rõ ràng về sự khác biệt giữa sự đầu tư và đằu cơ; giữa giá thị trường và giá trị cơ sở. Cách tiếp cận minh mẫn đối với đầu tư kiên quyết dựa vào quy tắc biên độ an toàn (margin-ofsafety) có thể gặt hái những phần thưởng giá trị. Nhưng quyết định thử với lấy những phần lợi nhuận này, thay vì thành quả chắc chắn của sự đẳu tư phòng thủ, không nên được đưa ra mà không tự vấn nhiều. Một suy nghĩ có tính hồi tưởng cuối cùng.

Khi còn trẻ, tác giả đã gia nhập Phố Wall vào tháng 6 năm 1914, khi đó không ai có một chút ý niệm nào về những gì nửa thế kỷ tới sẽ đem lại (thị trường chứng khoán còn không ngờ rằng một cuộc Chiến tranh Thế giới lại sắp nổ ra trong hai tháng nữa và sẽ làm sở Giao dịch Chứng khoán New York đóng cửa). Đến bây giờ, vào năm 1972, chúng ta thấy mình (nước Mỹ) là đất nước giàu nhất, mạnh nhất thế giới, nhưng lại có đầy những vấn đề lớn và lo ngại hơn chứ không tin tưởng vào tương lai.

Nhưng nếu chúng ta chỉ giới hạn sự chú ý của mình vào trải nghiệm đầu tư  của Mỹ; thì cũng có chút an ủi từ 57 năm vừa rồi. Qua tất cả những thăng trầm và mất mát vừa rung trời chuyển đất vừa bất ngờ khôn lường, điều vẫn luôn đúng là các nguyên tắc đầu tư sáng suốt nói chung đã tạo ra các kết quả tốt. Chúng ta phải hành động dựa trên giả thiết là các điều đó vẫn sẽ tiếp tục như vậy.

Lưu ý người đọc: Cuốn sách Nhà đầu tư thông minh này không hướng tới chiến lược tài chính tổng thể của người tiết kiệm và nhà đầu tư ; nó chỉ đê cập tới phần vốn mà họ sẵn sàng đặt vào các chứng khoán dễ tiêu thụ (hay có thể thu hồi được), tức là trái phiếu và cổ phiếu. Do đó; chúng tôi không nhắc tới những vấn đề quan trọng như tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn, các tài khoản của hiệp hội tiết kiệm và cho vay, bảo hiểm nhân thọ, tiền bảo hiểm niên kim, và thế chấp bất động sản hay sự sở hữu vốn cố đông.

Người đọc nên nhớ rằng, khi gặp phải từ “bây giờ”, hay những từ tương tự, trong cuốn sách Nhà đầu tư thông minh này, đó là nói về thời gian cuối năm 1971 hoặc đầu năm 1972.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *