Duyệt bởi
Thẻ: Đêm Núm Sen

Top 5 Tác Phẩm Văn Chương Nổi Bật Nhất 2017

Top 5 Tác Phẩm Văn Chương Nổi Bật Nhất 2017

Năm 2017 là năm văn chương Việt đón nhận khá nhiều tác phẩm có tính tìm tòi, sáng tạo, bên cạnh những cuốn sách văn học tạo được hiệu ứng khác.

Đêm núm sen – một tác phẩm lớn của Trần Dần lần đầu ra mắt sau 56 năm nằm im trong ngăn tủ vẫn đủ sức chinh phục bạn đọc hiện đại. Một Nguyễn Bình Phương bền bỉ, không ngừng sáng tạo và gợi ra những triết lý nhân sinh ở Kể xong rồi đi.

Một Dương Tường – con người của thi ca – với những lãng mạn và nhân văn bằng lối thơ “âm” và “tượng hình” trong Dương Tường thơ. Một 6 ngày của Tô Hải Vân kể bức tranh xã hội đương thời. Và một Con chim Joong bay từ A đến Z với câu chuyện ngổn ngang thời hậu chiến.

Đêm núm sen – bom tấn văn chương 2017

Đêm núm sen xuất bản lần đầu vào giữa năm 2017, nhưng vốn đã được tác giả Trần Dần (vốn được mệnh danh là “nhà cách tân”) viết xong vào năm 1961. Tuy chính thức ra mắt muộn 56 năm, tác phẩm vẫn đủ hiện đại, mời gọi những hướng nghiên cứu mới.

Đêm núm sen dưới vỏ một câu chuyện đồng thoại, về tình yêu của anh Kiến Gầy và cô Sứa trong thế giới loài kiến, để nói về câu chuyện tình yêu trong chiến tranh. Trong chiến tranh, những khát khao của tình yêu dường như mãnh liệt hơn, những rung động của tình yêu dường như tinh tế hơn, và chuyện yêu đương dường như đẹp đẽ hơn.

Tác phẩm không chỉ cho thấy vẻ đẹp của tình yêu, mà còn chứng minh sự phi nghĩa của chiến tranh. Chiến tranh là chia cắt, là nghiền nát những ước mơ, những thân thể, tàn phá làng mạc, thành phố…

Vào thời điểm những năm 1961, không ai viết về chiến tranh như Trần Dần. Ông mô tả chiến tranh từ điểm nhìn của người lính trên chiến hào; và cho tới 1981, Bảo Ninh mới cho ra mắt Nỗi buồn chiến tranh với điểm nhìn như thế.

Đêm núm sen, tác giả đứng từ số phận của một con người cá nhân, nhìn từ “con người” mà lịch sử thường bỏ qua. Ông nói mọi cuộc chiến đều phải kết thúc, kết thúc là quy luật của chiến tranh, nhưng chiến tranh đi qua khiến ai cũng mang theo vết sẹo.

Dương Tường thơ – người đứng về phe nước mắt

Cuốn sách là tuyển chọn những bài thơ tiêu biểu trong sự nghiệp của nhà thơ Dương Tường. Vốn nổi tiếng trong lĩnh vực dịch thuật, dành 80% thời gian cho công việc dịch sách, song thơ ca luôn có vị trí quan trọng với ông.

Theo tác giả 85 tuổi, đây sẽ là cuốn thơ cuối cùng trong sự nghiệp của ông. “Đúng ra, đó là tuyên ngôn của tôi, tuyên ngôn về cách sống của tôi. Đó là: Tôi đứng về phe nước mắt” – nhà thơ Dương Tường nói.

Dương Tường thơ được in trên chất liệu giấy cao cấp, trình bày đẹp. Nội dung được chia làm bốn phần: Tôi đứng về phe nước mắt, Le Soir est tout soupirs, At the Vietnam wall, Thơ thị giác. Dương Tường chứng minh là một người sáng tạo chữ. Trong sách, chất liệu ngôn ngữ được thể hiện là tiếng Việt, tiếng Pháp và tiếng Anh trong thể loại thơ chữ và thơ thị giác.

Thơ của Dương Tường giàu tính nhạc và biểu hình. Đọc thơ ông, độc giả có thể nghe được những âm vọng, thấy được những mảng màu quyến rũ. Thơ Dương Tường có giọng điệu riêng, những bài thơ mà hiệu quả âm nhạc, tạo hình là một sức mạnh cảm xúc, ý tưởng, tình cảm. Theo nhà phê bình, nhà thơ Hoàng Hưng, chỉ nguyên điều đó đủ ghi tên một Dương Tường trong số các nhà thơ đóng góp vào sự phát triển của thơ hiện đại Việt Nam.

Kể xong rồi đi – thách thức các nhà phê bình thế hệ mới

Nói như nhà văn Bảo Ninh, tác giả của Kể xong rồi đi – nhà văn Nguyễn Bình Phương  là một cây bút hạng nhất hiện nay. Bởi vậy, biên tập viên cuốn sách phải “giành giật”, và cảm thấy may mắn khi có được bản thảo của tiểu thuyết này.

Còn các nhà phê bình có nhiều cách nghiên cứu, bởi tác giả chọn giọng kể, với lối viết tiết chế tối đa những miêu tả, khiến người đọc thỏa sức với các hướng tiếp cận. Tác phẩm xứng đáng với sự tranh luận của độc giả, và là đối tượng, một thách đố nhà phê bình thời đại mới.

Tiểu thuyết Kể xong rồi đi viết về tuổi già của một đại tá về hưu, qua lời kể của một cậu cháu “bồ côi bồ cút mắt lác”. Câu chuyện bắt đầu bằng sự việc ông đại tá bị đột quỵ, nằm viện, được đưa trở về nhà và đi tới cái chết. Quá trình kể về tuổi già của ông đại tá, cậu cháu nuôi liên tục được liên hệ, mở rộng câu chuyện về những cái chết. Ở đó, các nhân vật chết theo nhiều cách khác nhau: vì chiến tranh, vì thù hận, tai nạn, chết bất đắc kỳ tử…

Điều ấy cho thấy cái chết ở gần ta hơn ta tưởng, tham dự vào bàn tiệc cuộc sống nhiều hơn ta nghĩ. Có thể tìm thấy ở đó nhiều chuyến đi của những con người và số phận khác nhau, thấp hèn hay vinh quang, nhẹ nhàng hay khốc liệt, ngẫu nhiên hay tất nhiên, nhưng đều cùng một điểm đến. Hình dáng của cái chết được làm sáng rõ: vừa giản dị vừa quyền lực, vừa kinh dị lại siêu phàm.

Kể về cái chết, nhưng tiểu thuyết khiến người đọc suy tư về sự sống. Cái chết xuất hiện dày đặc, để người đọc chiêm nghiệm về cõi nhân sinh nhàu nát. Qua những cái chết, nhà văn nói về sự bèo bọt, phù du của kiếp người.

6 ngày – nỗi cô đơn của con người trong đời sống hiện đại

Tiểu thuyết 6 ngày của tác giả Tô Hải Vân đã được vinh danh tại Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội, hạng mục Văn xuôi. Đây là một giải thưởng văn chương uy tín của Việt Nam trong nhiều năm qua.

Tác phẩm viết về nỗi cô đơn của con người trong cuộc sống hiện nay, qua cuộc đời nhân vật chính Phạm Bản. Anh là một kỹ sư yêu nghề, giỏi chuyên môn, bị vợ bỏ. Với số tiền ít ỏi, anh tìm mua một căn nhà nhỏ. Nghe đồn ngôi nhà có ma.

Tác phẩm với những câu chuyện hư hư thực thực, vừa bi hài vừa có lý vừa vô lý nhằm thể hiện cõi nhân gian phong phú. Một đời sống công chức thực mà ảo, nhưng câu chuyện nghe qua radio mỗi đêm dường như ảo mà thực, có sức ám ảnh. 6 ngày của Tô Hải Vân là thế giới đẹp đẽ với những số phận mang bản sắc riêng của người Hà Nội xưa và nay.

Con chim Joong bay từ A đến Z – chuyện ngổn ngang thời hậu chiến

“Tôi là một khẩu súng máy hiệu M134, được sản xuất từ bang Ohio, nước Mỹ. Người Việt Nam thường gọi dòng súng máy như tôi là đại liên hạng nặng” – giới thiệu về một khẩu súng chỉ quyến rũ đến thế là cùng. Hề đến thế là cùng. Khẩu súng cũng như vai hề trong chèo xuất hiện ở giữa, khi tất cả đã mỏi mệt, căng thẳng vì các tình huống đang được thắt nút dần dần.

Hề nhảy vụt ra… “tôi ra đây”… thì trong tiểu thuyết Con chim Joong bay từ A đến Z của nhà văn Đỗ Tiến Thụy khẩu súng nhảy ra… “tôi là một khẩu súng”… Nhưng hề chỉ để mua vui, còn trong tiểu thuyết khẩu súng đóng một vai trò đặc biệt là nếm vị máu và làm cân đối cho cuốn tiểu thuyết. Nó thay thế cho Cụ Chủ ở phần đầu, khi mà mọi biến cố gia đình đều xoay quanh cụ.

Ở phần đầu, khi Cụ Chủ còn sống, không phải cái ác không tồn tại trong gia đình cụ. Nó tồn tại dưới một lớp màng được che chắn kỹ lưỡng bởi các lý tưởng, giáo điều. Các cuộc họp vẫn diễn ra thường xuyên vào buổi tối, Cụ Chủ vẫn nói với mọi người về điều thiện, đạo đức, về xác tín làm người. Nhưng chính cụ cũng là một điều ác; chính cái bóng quá lớn của cụ là một điều ác phủ lên các điều ác khác.

Bản thân một tấm bạt che thì không bao giờ có tội, nhưng khi con người ta mượn tấm bạt lấy bóng tối làm điều khuất tất thì cái bạt thành có tội. Thêm nữa, Cụ Chủ là người không hợp thời, xã hội tiến đi bao năm cụ vẫn khoanh vùng tất cả như những năm chiến tranh, áp lên mọi người, thì ấy là ác.

Ở phần cuối, mọi biến cố đều xoay quanh khẩu súng. Chỉ khác Cụ Chủ giữ vai trò trực tiếp, tác động trực tiếp (dù trên danh nghĩa các cuộc gia đình) đến đời sống mọi thành viên trong gia đình. Khẩu súng ngược lại, nó không hề quen biết các thành viên, nhưng một cách gián tiếp tất cả các dòng chảy nhân vật đều hướng đến nó, chờ đợi nó.

Khẩu súng chu du qua bốn cuộc chiến tranh gồm: Chống Mỹ, Biên giới Tây Nam, Biên giới Việt – Trung, Cuộc chiến trong thời bình. Cuối cùng khẩu súng đã thất bại.

Tiểu thuyết của Đỗ Tiến Thụy, qua lời kể con chim và khẩu súng đại liên, kể lại câu chuyện dữ dội với ngổn ngang những xung đột thời hậu chiến. Tác phẩm còn ẩn chứa tiếng kêu tuyệt vọng từ thiên nhiên.

Trần Dần – Đêm Núm Sen

Trần Dần – Đêm Núm Sen

Đêm núm sen,  bản thảo nằm đau rồng rã hơn nữa thế kỷ… bụi bặm.. thời gian… chuột bọ gặm nhấm… những trang thất lạc…

Đêm núm sen… năm mươi sáu năm sau đọc lại, không còn cú sốt bàng hoàng, ngây ngất như ban đầu ( Phạm Thị Hoài nói hồi tháng I năm 1997 lúc cùng tôi soạn lại Di cảo của Trần Dần: cuốn sách này được in vào lúc mà được viết ra, ắt là một quả bom ! ), nhưng ngấm sâu thêm những suy nghĩ nhiều chiều về số phận của con người ( không phải là CON NGƯỜI viết hoa, mà là con người bé, tý như con kiến ).

Đêm núm sen… Một cocktail của trử tình, bi tráng của u – ma, của các bề chiều chữ: màu chữ, vị chữ, nhịp chữ, biến tấu chữ ( Trần Dần có cả một lò luyện chữ !).

Tôi không ngần ngại xếp Đêm Núm Sen vào dòng ngụ ngôn đen, giống như những ngụ ngôn đen  của Gunter Grass thể hiện gương mặt bị lãng quên của lịch sử ( Tuyên dương của hội đồng xét tặng Giải Thưởng Nobel Văn Chương ). Bạn đọc nhạy cảm sẽ thấy ánh vang lên như kinh thánh ( sách Xuất Ai Cập Xứ ) trong luận lạc của làng mật của Kiến gầy trong hành trình khai lập đến hình thành. Cuốn tiểu thuyết “Đêm Núm Sen” về tình yêu trong xoáy lốc chiến tranh cũng là một sử thi về thân phận của kiếp Người – Kiến – Kiến – Người trên một bề một chiều vừa bi tráng vừa trữ tình của nhân loại. ”

“Hồi hộp, thích thú, kinh ngạc… Đêm Núm Sen tươi mọng, run rẩy, cựa quậy, phập phồng ngôn ngữ, câu chữ, cảm giác một thế giới kiến, mà đọc thấy rất hiện thực và lịch sử con người. Trần Dần luôn gây bất ngời bởi văn chương trần dần với một văn cách luôn khác – lạ – mới mà ông coi là nhà văn là phải có mới thực là có tư cách là nhà văn.”

Đêm núm sen được viết năm 1961 trước Những ngã tư và những cột đèn năm năm. Quãng thời gian ấy không rõ có phải để Trần Dần trưởng thành về kỹ thuật tiểu thuyết hay không, bởi có thể thấy trong Những ngã tư và những cột đèn… tất cả các thủ pháp đồng hiện, dòng ý thức, truyện lồng truyện, trần thuật từ nhiều điểm nhìn, các kỹ thuật truyện trinh thám… Tôi không chắc, nhưng với cuốn này, tôi có cảm giác rất mạnh mẽ rằng Trần Dần muốn đánh một ván bài ngửa, muốn chọn lối viết thẳng, không nhiều kỹ xảo cấu trúc, không nhân vật đa chiều, không ú tim lắt léo, không gây bất ngờ, dường như dùng sự tối giản, chỉ dùng ngôn ngữ để viết về tình yêu.

Ngay cả việc Trần Dần lạ hóa bối cảnh và nhân vật sang thế giới một loài kiến-người cũng là để có thể phiêu lưu xa hơn trên địa hạt ngôn ngữ.

Người khổng lồ Trần Dần dường như muốn khẳng định một xác tín: chỉ ngôn ngữ, cho tất cả. Trần Dần xây dựng một xã hội lý tưởng với những kiến-người chăm chỉ lao động, trung thực, không tư hữu, yêu thương nhau, quần tụ trong một không gian cổ tích – tựa như bản giao hưởng tha thiết của những phố, quảng trường, rặng đèn lồng, hàng cây và ngàn sắc màu huyền ảo.

Phố lúc nào cũng là một mỹ cảm đinh ninh trong sáng tác của Trần Dần nhưng ở đây được chắp thêm đôi cánh tưởng tượng để mang vẻ man mác thần tiên. Mỗi góc được tả, Trần Dần đều có dụng ý hội họa rõ rệt:

“Ban tối, Cổng Bắc càng đẹp. Hàng ngàn hạt đèn tím lắc rắc trong lòng phố dài những tia nhỏ như mứt tím non, tím đặc, tím than, tím hoa cà… Cả một sự man mác thần tiên của tím đậm nhạt, màu chồng màu. Chúng tôi tìm tới nhà cụ kiến Mây. Chúng tôi nghe chuyện cổ tích. Gió lá lào xào ngoài phố, với các tia sao.”

“Trăng sáng một nghìn bạch lạp: hai cái bóng của chúng tôi ngả dài mặt đường… Tôi đi thoai thoải. Tôi xích cái bóng của tôi lại. Cô ta nhìn thấy. Cô né ra… Chúng tôi ngồi ở một ghế đá, dưới cây xà cừ. Vầng trăng bị mắc trong vòm lá đen. Cả một vầng trăng, nõn như thịt sò. Quanh tôi là mông-mênh-quảng-trường. Một thứ mông mênh bù dục. Chúng tôi thành một bộ phận của im lặng đêm trăng.”

Một điều nữa ở cuốn sách này mà Những ngã tư và những cột đèn và những sáng tác khác ít có hoặc không có, ấy là tính hoạt kê. Những màn đối thoại có duyên, những nhân vật thú vị, những xen đánh đấm, tán phét, “cò cưa”, làm trò, hiểu lầm… khiến người ta đôi khi cười phá, đôi khi mủm mỉm, và đâu đó giữa những dòng chữ là cái nháy mắt hóm hỉnh của tác giả. Dùng chất khôi hài để viết về một thế giới kiến người là một lựa chọn rất phù hợp, và Trần Dần thực sự đã tạo ra được một cái “không khí kiến người” cho cuốn tiểu thuyết của mình.

Tình yêu be bé của anh kiến Gầy và cô gái núm sen được đặt vào bức tranh phố, và chiến tranh xảy đến như một chất xúc tác khiến nhân vật bùng nổ cảm xúc.

Ai có thể cực tả những phấp phỏng, thẹn thùng, nhớ nhung, đau khổ, đắm say hay như Trần Dần? Ai có thể khiến người đọc chếnh choáng trước một đêm núm sen, với sự trinh nguyên của trinh nguyên, run rẩy của run rẩy, chúm chím của chúm chím, với những vuốt, miết, riết, ghì, mút, áp, cuốn, thấm, những run run, rùng rùng, rờn rợn, rơm rớm, thon thót, bồng bềnh…, như Trần Dần?

“Tôi kéo tay Sứa…

Sứa quay lại. Ngực Sứa bềnh lên hai cái đọt non. Tôi giơ tay lên. Sứa thẹn. Thân thể áp ghì. Sự lủng củng rờn rợn của đùi, vế, bắp thịt, núm thịt, búp thịt.

Sứa thẹn.

Hai cái đọt non đâm thon thót ngực tôi…

Ngọn lửa ú ớ lùi xa…

Thế là bắt đầu từ sự bắt đầu. Tôi ù ù ở tai. Tôi lóng ngóng. Sứa càng thẹn.

Căn buồng nhòe đỏ…

Sự không ăn khớp, sự không-ăn-khớp, những cái hẫng mênh mông…

Tôi bối rối giữa những hé, mở, khép nép…

Sứa thẹn…”

Tả ái ân bao giờ cũng là một thách thức kinh khủng. Để sao cho chân thực mà không sượng, đẹp và sexy mà không thô tục.

Trần Dần dành riêng một chương để viết về đêm ái ân đầu tiên của anh Gầy và cô Sứa, và tôi nghĩ đây là một trong những chương hay nhất, đầy cảm xúc, đầy chất thơ, và trong văn vắt. Đến ngày hôm nay, với tất cả những phương tiện nghe nhìn hiện đại, phim ảnh tràn lan, thì những con chữ của Trần Dần vẫn đẹp, vẫn tràn đầy sức rung động như thế.

Tôi bỗng cảm thấy những câu chuyện tình yêu nghe xung quanh mình trở nên nhạt hoét. Tôi hình dung cách đây nhiều chục năm, nếu Đêm núm sen được in ra, thì hẳn nó gây chấn động đến thế nào. Sau khi làm việc trên những trang bản thảo Đêm núm sen, tôi tin mối tình đơn sơ này sẽ là một trong những tình yêu đẹp nhất trong văn học Việt Nam.

Đọc Đêm núm sen của Trần Dần, là đọc một cuộc trình diễn ngôn ngữ. Trần Dần sở hữu một thứ tiếng Việt đẹp, ngon, mạnh mẽ, tràn trề năng lượng. Tiểu thuyết cho ông nhiều đất diễn. Có thể bắt gặp rất nhiều câu văn hay trong cuốn tiểu thuyết này.

“Đồng cỏ rồi lại đồng cỏ… Chúng tôi đi như trong cái nồi rang. Mặt trời thả xuống những tia lửa quả rọi. Chúng tôi ngốn những tích tắc bỏng cháy. những dặm đường xém thui…”

Nhưng, còn có thể đọc ở đây những âm vang của thời cuộc và đối thoại của Trần Dần với thời cuộc, những triết lý về xã hội, nhân sinh, và những điều này nữa (chứ không chỉ riêng độ sexy của tác phẩm), cũng sẽ gây tranh luận nếu tác phẩm được in thời bấy giờ. Rốt cuộc chuyện kiến thì cũng là chuyện người mà thôi.

“Chỉ cần nhân danh một số phận bình thường, đúng thế, người ta đã rất có đủ lý do để mà đòi: tiêu diệt hẳn chiến tranh!

Đúng thế!

Bất cứ một số phận bình thường nào!

Ai cải tử cho bác thợ Ngoã ở khu nhà lá kia?

Thời gian ư?

Thời gian cũng không thể san sửa cho những cái án mạng của chiến tranh ấy!

Ai cải tử cho những tích tắc be bé?

Những hạnh phúc be bé?

Những chương trình be bé?…”

Trần Dần ra đi khỏi “ván chiêm bao” này vào năm 1997.

Đúng 20 năm sau ngày ông mất, cuốn Tiểu thuyết Đêm núm sen lần đầu tiên bước ra ánh sáng từ kho di cảo bụi bặm nhưng ẩn chứa đầy tâm sự và tâm huyết của nhà văn. Sự viết của Trần Dần qua Đêm núm sen, cũng như nhiều tác phẩm khác, khiến cho người ta nhận ra tiếng Việt đẹp thế nào, và khả năng của nó vô tận đến đâu.

Ở khía cạnh này, cho đến nay Trần Dần vẫn là một thành lũy vời vợi khó ai vượt qua.

Thông tin Tác giả:

TRẦN DẦN: ( 23.08.1926 – 17.01.1997 ) Sinh ra trong một gia đình khá giả Tại Thành phố Nam Định.

Ông  học trung học tại Hà Nội, đậu tú tài Pháp và bắt đầu làm thơ.

Năm 1946, Trần Dần lập nhóm thi sĩ tượng trưng cùng Trần Mai Châu, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Định, Vũ Hoàng Chương… Cũng trong năm này, tạp chí Dạ đài ra số I, đăng bản tuyên ngôn của phái tượng trung do Trần Dần chấp bút.

Năm 1954 Trần Dần viết Người Người Lớp Lớp.

Năm 1995 Trần Dần viết Nhất Định Thắng.

Năm 1960 Trần Dần viết Cổng Tỉnh.

Năm 1961 Trần Dần viết Đêm Núm Sen.

Năm 1963 Trần Dần viết Jờ Joacx.

Và một số tác phẩm khác nữa, năm 2007, Trần Dần được truy tặng Giải Thưởng Nhà nước Về Văn Học Nghệ Thuật.